Quế, hồi Việt Nam – ngành xuất khẩu trị giá trăm triệu đô

Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu quế, hồi đạt gần 400 triệu USD, sản lượng quế đứng thứ 3 thế giới còn hồi đứng thứ nhì (theo Hiệp hội Gia vị Thế giới). Nhờ chất lượng tốt và số lượng ổn định, mặt hàng này được nhiều thị trường ưa chuộng, săn đón.

Cơ hội làm giàu từ sản vật thiên nhiên

Theo số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc – FAO, năm 2020, Việt Nam nằm trong số 4 quốc gia đóng góp tới 98% tổng sản lượng quế toàn cầu. Còn hồi là loài cây bản địa rất ít quốc gia sở hữu, chiếm phần lớn là Việt Nam và Trung Quốc. Với nguồn tài nguyên này, Việt Nam là nhà cung cấp đầy tiềm năng của thị trường gia vị và hương liệu thế giới, được định giá 21,3 tỷ USD năm 2021 và sẽ tăng lên 27,4 tỷ USD năm 2026 (theo Marketsandmarkets.com).

Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu quế, hồi đạt gần 400 triệu USD

Hiện nay, quế, hồi Việt Nam được tiêu thụ mạnh ở nhiều khu vực Nam Á (như Ấn Độ, Bangladesh), Trung Đông (UAE, Pakistan), Đông Á (Nhật Bản, Đài Loan – Trung Quốc, Hàn Quốc), Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu – EU. Trước xu hướng gia tăng nhu cầu nguyên liệu trong các ngành công nghiệp thực phẩm, hóa mỹ phẩm, dược phẩm… cùng nhiều hiệp định thương mại tự do được ký kết, sản phẩm quế, hồi Việt Nam có thêm động lực, thời cơ phát triển.

Trong cuộc khủng hoảng toàn cầu mà Covid-19 gây ra, xuất khẩu quế, hồi Việt Nam vẫn có những điểm sáng. Năm 2021, giá hoa hồi khô và tươi tại Lạng Sơn tăng 20-50% so với năm 2020, theo báo Nông nghiệp Việt Nam.

Cần phát triển theo hướng bền vững

Một nghiên cứu thị trường năm 2021 của SNV (Tổ chức Phát triển Hà Lan) tại Việt Nam đã chỉ ra những ưu thế nổi trội của quế, hồi Việt Nam bao gồm: Khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp với giống cây chất lượng cao, sự quan tâm và hỗ trợ từ chính quyền địa phương đối với phát triển nông – lâm nghiệp… Thêm vào đó, một số doanh nghiệp tư nhân phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi cung ứng, tạo mối liên kết với người nông dân và mở ra con đường sản xuất “sạch”, nâng tầm quế, hồi trên trường quốc tế.

Theo báo Nông nghiệp Việt Nam, quế, hồi hữu cơ cho năng suất cao, ít rụng lá, tỷ lệ đậu hoa và hàm lượng tinh dầu cao hơn 15%-20%. Sản xuất hữu cơ cũng là hướng đi phù hợp xu hướng cũng như yêu cầu của những thị trường có sức tiêu thụ cao và nổi tiếng “khó tính”. Khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu Nielsen thực hiện tại 60 quốc gia cho thấy EU là thị trường lớn thứ 2 của sản phẩm chứng nhận organic, 68% người tiêu dùng EU cho biết sẵn sàng trả thêm tiền cho sản phẩm hữu cơ.

Tại thị trường nội địa với gần 100 triệu người tiêu dùng, không phải ai cũng biết đến những tinh túy, công dụng của quế, hồi. Cũng theo nghiên cứu của SNV tại Việt Nam, diện tích trồng quế toàn quốc đã tăng từ 70.000 ha năm 2015 lên 123.970 ha năm 2020 (trong đó Yên Bái nhiều nhất với 75.000 ha). Tuy nhiên hầu hết thành phẩm được xuất khẩu hoặc do thương lái Trung Quốc thu gom, còn nhu cầu tiêu dùng nội địa khá thấp. Tại nhiều vùng nguyên liệu, chính người nông dân cũng bị hạn chế trong thông tin về chuỗi giá trị sản xuất, tiêu thụ, hoặc kiến thức marketing…

Những năm tới, ngành quế, hồi được dự báo tiếp tục tăng trưởng. Đó là tín hiệu vui, tuy nhiên cũng đặt ra những lo ngại về nguy cơ chuyển đổi ồ ạt, khó khăn trong quản lý chất lượng, rủi ro giá cả, tác động xấu đến môi trường tự nhiên và xã hội. Tại nhiều diễn đàn, các chuyên gia trong ngành đã khuyến cáo vấn đề này cũng như góp ý cho sự phát triển bền vững của quế, hồi Việt Nam. Theo đó, chuyên gia khuyến cáo nên đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ, tăng cường và đảm bảo các tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ, đa dạng hóa sản phẩm đã chế biến hoặc tinh chế…

(T/H)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *